Chính sách hưu trí theo Luật BHXH (sửa đổi): Hướng tới bảo đảm an sinh lâu dài

Thứ ba - 11/04/2017 23:08
Quy định chế độ hưu trí trong Luật BHXH (sửa đổi) năm 2014 hướng đến việc đảm bảo nguyên tắc “đóng- hưởng”, công bằng xã hội và bảo đảm an sinh xã hội lâu dài. Đó là khẳng định của ông Bùi Sỹ Lợi- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội trong cuộc trao đổi mới đây với Báo BHXH.
Chính sách hưu trí theo Luật BHXH (sửa đổi): Hướng tới bảo đảm an sinh lâu dài

* PV: Thưa ông, chính sách hưu trí của Việt Nam được hình thành trên cơ sở nào và tại sao Luật BHXH lại tiếp tục phải sửa đổi và được Quốc hội thông qua năm 2014?

 - Ông Bùi Sỹ Lợi:

Sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76, 77 quy định chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí cho CBCNV. Đến năm 1961, Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 về ban hành Điều lệ BHXH tạm thời đối với CBCNV có quy định 6 chế độ và quy định quỹ BHXH nằm trong NSNN, do các cơ quan, đơn vị đóng góp; đồng thời, mức hưởng cũng được xác định trước.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Bộ luật Lao động năm 1995 đã dành một chương về BHXH, trong đó quy định đối tượng được mở rộng, hình thành quỹ BHXH độc lập với NSNN do sự đóng góp của NLĐ, chủ SDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước. Đặc biệt, trước khi Bộ luật Lao động 1995 ban hành, thì chế độ BH hưu trí chỉ có người SDLĐ đóng 1%, còn NLĐ làm công hưởng lương không phải đóng và hệ quả là hiện nay NSNN đang phải chi trả BHXH cho toàn bộ người về nghỉ hưu, mất sức trước năm 1995. Chính sách BHXH nói chung, chính sách hưu trí nói riêng từ lâu đã phải “gánh vác” thay hoặc là một biện pháp bổ sung thực hiện nhiều chính sách, chế độ khác, dẫn đến bản thân chính sách này chưa tuân thủ nguyên tắc “đóng- hưởng” cho đến bây giờ.

Chỉ tính riêng chế độ hưu trí, để phục vụ mục tiêu tinh giản biên chế giai đoạn 1985- 1991, Nhà nước đã có nhiều văn bản cho NLĐ giảm tuổi đời để nghỉ hưu. Thậm chí, NLĐ còn được cộng thêm thời gian công tác để được nghỉ hưu (Điều 1 Nghị định số 236-HĐBT ngày 18/9/1985 cho phép tính 1 năm công tác thành 1 năm 2 tháng; hoặc 1 năm 4 tháng; 1 năm 6 tháng tuỳ điều kiện lao động và chiến đấu trước đó). Sau đó, Quyết định 176/HĐBT ngày 9/10/1989 lại tiếp tục cho áp dụng biện pháp này để sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh. Và đến năm 1991, biện pháp này tiếp tục được áp dụng nhằm sắp xếp lại biên chế của khu vực hành chính, sự nghiệp thông qua Quyết định 111/HĐBT ngày 12/4/1991.

Cũng phải khẳng định, chỉ có ở Việt Nam mới lấy mức lương cao nhất hoặc mức lương ở thời điểm làm việc cuối cùng của NLĐ “làm nền” để tính mức lương hưu cho người nghỉ hưu. Trước năm 1995 lấy mức lương cuối cùng để tính mức lương hưu được hưởng, nên tỉ lệ hưởng lương hưu tối đa đến 75%, thậm chí có nhiều trường hợp hưởng tới 95%. Từ 1995 đến nay, mức lương hưu tính trung bình của 5 năm cuối (phần lớn tỉ lệ hưởng ở mức 65%-75%).

Mặc dù cách làm này là bất hợp lý, nhưng vì khi tại chức lương đã thấp, khi nghỉ hưu lại càng thấp hơn, nên Nhà nước phải duy trì để bảo đảm đời sống cho người nghỉ hưu. Còn các nước trên thế giới hầu như lấy mức lương trung bình của toàn bộ thời gian làm việc để làm nền tính mức lương hưu và đây cũng là cách tính hợp lý nhất, công bằng nhất theo nguyên tắc “đóng- hưởng” và tỉ lệ hưởng của các nước này cũng chỉ ở mức 35%- 45%.

NLĐ được hưởng nhiều quyền lợi khi tham gia BHXH

* Như vậy, chính sách hưu trí được sửa đổi trong thời gian qua có khắc phục được những tồn tại trên và lộ trình sẽ được thực hiện như thế nào, thưa ông?

- Luật BHXH 2006 vẫn chưa bình đẳng giữa người nghỉ hưu trong khu vực nhà nước với khu vực ngoài nhà nước như: Trong khu vực nhà nước, lương hưu tính bình quân một số năm cuối khi nghỉ hưu; nhưng ở khu vực ngoài nhà nước lại tính cả quá trình (từ năm bắt đầu đóng BHXH đến năm nghỉ hưu).

Luật BHXH sửa đổi 2014 đang hướng đến xử lý bất cập đó, nhưng không thể xử lý ngay mà phải có lộ trình. Tức là, tất cả những người trong khu vực nhà nước trước khi Luật BHXH 2014 có hiệu lực, vẫn được tính lương hưu bình quân một số năm cuối như theo Luật BHXH năm 2006. Còn khi Luật BHXH 2014 có hiệu lực, sẽ được thực hiện theo lộ trình: Nếu NLĐ tham gia BHXH từ năm 2016 đến năm 2020, khi nghỉ hưu thì lương hưu sẽ tính bình quân bằng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 15 năm cuối; người tham gia từ đầu năm 2021 đến cuối năm 2024, khi nghỉ hưu thì lương hưu sẽ tính bình quân bằng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của 20 năm cuối; người tham gia từ 1/1/2025 trở đi thì khi nghỉ hưu sẽ tính lương hưu bình quân của cả quá trình công tác.

* Thực hiện theo Luật BHXH 2014, chẳng hạn một số người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH, vậy làm thế nào để được hưởng mức lương hưu tối đa, thưa ông?

- Với những trường hợp này, NLĐ có thể đóng BHXH theo hình thức tự nguyện để được hưởng mức lương hưu tối đa bằng 75% mức bình quân tháng đóng BHXH. Thậm chí, nếu vì lý do nào đó mà NLĐ thiếu cả tuổi lẫn thời gian đóng BHXH tối đa thì vẫn có thể đóng tiếp số tiền theo 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 5 năm và chờ đủ tuổi nghỉ hưu.

Theo tôi, chính sách hưu trí chính là “cái lưới” bảo vệ NLĐ tránh bị rơi vào nghèo đói khi hết tuổi lao động. Đầu những năm 1990, do sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh, nước ta có khoảng 700.000 lao động nhận BHXH 1 lần. Rất nhiều người trong số họ có cuộc sống khó khăn do không có lương hưu. Nhiều người thậm chí còn muốn trả lại Nhà nước số tiền đã nhận để tiếp tục làm việc và đóng BHXH để được hưởng lương nhưng không được.

* Hiện vẫn có ý kiến cho rằng, BHXH cũng là tiết kiệm. Vậy tại sao không để NLĐ “tự đi gửi tiết kiệm”, mà phải tham gia BHXH?

- Bản chất của BHXH là “của để dành”, được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật, nhằm tạo cơ hội để NLĐ khi về hưu có thu nhập, đảm bảo được cuộc sống và giảm bớt gánh nặng đối với xã hội. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay khi tuổi thọ ngày càng tăng, người già ngày càng đông, nếu không tự lo được cuộc sống cho mình từ tiền lương hưu, thì gánh nặng đó sẽ “đổ” vào gia đình, xã hội.

Theo quy định của Luật BHXH, NLĐ tham gia BHXH sẽ đóng 8%, người SDLĐ đóng 14% vào quỹ hưu trí, tử tuất. Nhà nước bắt buộc người SDLĐ phải đóng góp để đảm bảo tương lai cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động hoặc không may gặp phải biến cố bất lợi. Đây chính là lợi ích không chỉ cho NLĐ, mà còn cho xã hội. Tuy nhiên, nếu không tham gia BHXH, NLĐ cũng không được lấy khoản phí đóng của DN cho vào túi của mình, còn DN sẽ phải đóng thuế thu nhập DN trên tổng số tiền này; còn nếu DN đóng vào quỹ BHXH, thì khoản này sẽ được tính vào chi phí quản lý của DN.

Trong những năm qua, mức lương hưu đã nhiều lần được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội. Vào các thời điểm tăng lương tối thiểu cũng như xem xét chỉ số giá cả, Nhà nước đều có điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý, bảo đảm cuộc sống cho hàng triệu người. Ngoài ra, khi về hưu, NLĐ còn được cấp thẻ BHYT và được quỹ BHYT chi trả chi phí KCB. Khi qua đời, người lo mai táng còn được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm NLĐ chết; thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần tối thiểu bằng 3 tháng lương hưu hiện hưởng. Trường hợp có thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, thì tối đa được 4 định suất, trong đó con nhỏ được hưởng cho đến khi trưởng thành, cha mẹ già được hưởng cho đến khi qua đời. Đặc biệt, trong lương hưu, chính sách BHYT cho người già mới là chính sách quan trọng, vì chi phí cho chăm sóc sức khoẻ người già lớn hơn rất nhiều so với chi phí ăn, ở, mặc và đi lại.

Cũng cùng là tiết kiệm, nhưng bản chất của đóng góp vào hệ thống BHXH rất nhân văn. Còn NLĐ gửi tiền tiết kiệm, thoạt nhìn có thể sinh lời hơn tham gia BHXH, nhưng khi đồng tiền mất giá thì sẽ không được Nhà nước bù đắp… Như vậy, rõ ràng không thể so sánh giữa việc gửi tiết kiệm với tham gia vào chính sách BHXH.

* Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn tin: baobaohiemxahoi.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn