“Đã đến lúc chúng ta thực hiện nguyên tắc đóng - hưởng”

Thứ hai - 27/10/2014 06:13
Bên hành lang quốc hội ngày 23/10/2014, đại biểu quốc hội Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã thông tin và trao đổi như vậy với báo chí xung quanh vấn đề về lương hưu và BHXH.
Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội
Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội
     - Trong nội dung thảo luận tại hội trường về dự án Luật BHXH, ông có nói đến việc một Tổng giám đốc công ty bia có lương về hưu là 65 triệu đồng/tháng. Xin ông cho biết rõ hơn về trường hợp này?

     - Đó là ông Nguyễn Minh, nguyên Tổng giám đốc Công ty Bia Huda Huế, hiện đang hưởng lương hưu là 65,2 triệu đồng/tháng. Lý do là mức lương của ông Minh khi về hưu là tính bình quân của 5 năm và lại đóng lương hưu trên tiền lương thực tế, lên tới hàng trăm triệu nên mức lương hưu cao là chính xác.

    - Có nhiều trường hợp như vậy không, thưa ông?

   - Đây là trường hợp cao nhất, còn một số trường hợp thấp hơn chắc cũng có, nhưng đây là trường hợp cá biệt nên khi nghiên cứu thì phải tính đến.

    - Theo ông cơ chế tính lương hưu như vậy có hợp lý không?

   - Trên thế giới, họ không hình thành cơ chế hưởng lương hưu quá cao như vậy. Lý do vì lương hưu là lương để bù đắp phần hao phí lao động, hay bù đắp cho tuổi già, không có sức lao động được hưởng. Họ không hướng đến việc phải sống đàng hoàng bằng lương hưu. Tiền lương hưu chỉ có tính chất để đảm bảo cuộc sống cho người về hưu, đáp ứng nhu cầu sống của bản thân. Việc đóng cao thì hưởng cao là đương nhiên, nhưng xét chính sách xã hội thì sẽ không thỏa đáng, không nhất thiết phải là như vậy.

   - Vậy việc các cựu lãnh đạo DNNN lương cao như vậy có tạo ra sự mất công bằng trong xã hội không, thưa ông?

   -Điều đó không ảnh hưởng gì cả. Vì họ đóng cao thì hưởng cao, đóng càng nhiều thì hưởng càng cao. Vì chuyện đó, nên khi xảy ra tình trạng lương lãnh đạo về hưu quá cao nên chúng ta sửa quy định: tối đa không được quá 20 lần tiền lương cơ sở để hạn chế bớt lương cao người về hưu, rào cản kỹ thuật là ở chỗ đó. Nên mới có chuyện mức đóng tối thiểu và tối đa, để khống chế bớt chuyện về hưu lương cao.

   - Có đại biểu cho rằng với cách tính lương hưu mới, sau năm 2018, lao động nữ sẽ có nhiều thiệt thòi?
  
    - Tôi đã phân tích rồi, khi xác định 15 năm công tác của lao động nữ tương đương 45% nhưng thực tế chỉ tương ứng 38%. Do đời sống người lao động khó khăn nên chúng ta điều chỉnh cộng thêm 7% để đạt 45%, cải thiện đời sống người về hưu. Như thế, chúng ta cho hưởng lợi trước chứ không phải thực tế người lao động nữ được hưởng như vậy. Đó là phần bao cấp của Nhà nước. Bây giờ, đến lúc chúng ta thực hiện nguyên tắc đóng hưởng, đóng cao thì hưởng cao, đóng thấp thì hưởng thấp, phải quay về nguyên tắc đóng bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không thực hiện bao cấp nữa.

   Theo công thức tính, thì người về hưu ngay trước khi luật có hiệu lực thì được lợi hơn người về hưu sau là chắc chắn, nhưng chênh lệch đó không phải là tiền lương của người lao động đó, mà chính là tiền lương từ ngân sách, hoặc từ quỹ Bảo hiểm xã hội. Còn người về sau khi luật có hiệu lực thì không mất gì, mà đóng bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không mất đồng nào.

    Tuy nhiên so sánh với công thức hiện nay thì mất cân bằng. Vì vậy, chúng ta phải nới thêm, một là kéo thêm 5 năm, bình quân 10 năm và 20 năm. Tới năm 2045, người đầu tiên mới hưởng chính sách tiền lương chia bình quân trên cả quá trình đóng góp. Người về hưu trước 2045 hoàn toàn được hưởng lợi từ quỹ Bảo hiểm xã hội, tức là mức hưởng cao hơn mức đóng. Trên thế giới không có nước nào tiền lương về hưu bằng 75% của những năm cuối, cao nhất chỉ 65%. Chúng ta đi với lộ trình hơi sớm với tinh thần cải cách đời sống cho người lao động, do quá khó khăn.

    Nhưng nếu thực hiện các bước: tính đúng tính đủ khi đóng; người lao động tham gia thêm thời gian đóng BHXH; quản lý Quỹ BHXH tốt thì Quỹ này sẽ đảm bảo.

    Trong dự thảo Luật đã quy định, tới năm 2020 BHXH Việt Nam phải hoàn thiện CNTT, mỗi người tham gia BHXH phải có 1 mã định danh về an sinh xã hội. NLĐ hoàn toàn biết tiền đóng BHXH là bao nhiêu, nên sẽ biết tiền được hưởng có đúng số tiền đóng góp hay không.

    BHXH không phải là chính sách chia sẻ như BHYT mà BHXH là có đóng có hưởng; đóng cao, hưởng cao; đóng thấp hưởng thấp. Về nguyên tắc, tới lúc nào đó tiền lương của người tham gia BHXH hoàn toàn biết được theo mã định danh an sinh xã hội.

   - Một số đại biểu cho rằng cần tiết giảm chi phí vận hành hệ thống BHXH, vậy dự thảo luật BHXH lần này có quy định về vấn đề này không?

   - Việc giảm chi phí quản lý, bất kỳ một quốc gia nào, chi phí cho quản lý hệ thống BHXH đều dựa trên tiền sinh lời, không có nhà nước nào bao cấp chuyện này. Đó là quỹ hạch toán độc lập. Nên muốn bảo toàn quỹ này thì phải quản lý quỹ này một cách chặt chẽ, phải đem đi đầu tư để tăng trưởng, làm sao chống trượt giá, lãi suất thu được từ quỹ BHXH phải cao hơn chỉ số trượt giá hàng năm mới bảo toàn được quỹ và phải tăng trưởng. Nên Chính phủ muốn có hình thức ủy thác đầu tư để quỹ này tăng nhanh hơn, nhưng các đại biểu quốc hội không muốn như vậy vì sợ rằng ủy thác đầu tư rủi ro lớn. Trong nguyên tắc của các nguồn quỹ tài chính, nếu mang đi đầu tư hiệu quả thấp nhưng chắc chắn thì rủi ro không cao, rất ít. Nhưng nếu mang đi đầu tư lãi cao, thì độ rủi ro càng lớn. Vì vậy với quỹ an sinh xã hội, nguyên tắc đầu tiên là phải bảo toàn, tăng trưởng và ko được làm mất quỹ.

   Điểm thứ hai phải giảm chi phí là bộ máy quản lý của BHXH Việt Nam, phải giảm tối đa, cải cách thủ tục hành chính, phải giảm bộ máy, phải công nghệ hóa thông tin và Chính phủ hiện đã yêu cầu BHXH VN phải giảm 50% số giờ thực hiện chính sách BHXH. BHXH đang phấn đấu giảm khoảng một nửa còn 70 giờ, để thực hiện giao dịch BHXH. Như vậy, nếu như quy mô, đối tượng tham gia BHXH tăng, bộ máy không tăng thì rõ là chi phí giảm. Mà nếu bộ máy lại càng giảm do hiện đại hóa công nghệ thông tin khi có mã định danh về an sinh xã hội thì dứt khoát chi phí này phải giảm. Nên ko thể quy định một tỷ lệ cứng khắt khe để mà khoán chi phí quản lý, vì không cần động thái nào khi đối tượng tăng, nguồn thu lớn thì chi phí quản lý sẽ cao lên. Nên Chính phủ phải nghiên cứu và xem xét để quyết định chi phí quản lý này 3 năm/lần, được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, để làm cho chi phí quản lý giảm đi, hiệu quả hơn và yêu cầu bộ máy này phải năng động hơn, sáng tạo hơn, cải cách thủ tục hành chính, công nghệ hoá để bộ máy giảm đi. Đây là một yêu cầu mà các đại biểu quốc hội nói rất chính xác.

   Mục tiêu luật lần này có 3 yếu tố, một là mở rộng đối tượng để đảm bảo an sinh xã hội; hai là đảm bảo công thức đóng/hưởng; thứ ba là quản lý. Không ai muốn giao thanh tra cho BHXH Việt Nam vì đây là cơ quan sự nghiệp quản lý quỹ. Nhưng đây là đơn vị sự nghiệp hết sức đặc thù. Quỹ BHXH đang kết dư số tiền rất lớn 230.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng hơn 1/4 ngân sách. Vừa thu, vừa quản lý, tăng trưởng, phát triển, vừa chi cho người lao động. Giao chức năng thanh tra thu BHXH để hiệu lực quản lý nhà nước tăng lên. Còn chuyện có trái luật thanh tra hay không thì Luật thanh tra chỉ quy định thanh tra cơ quan quản lý nhà nước, nhưng thanh tra gì đi nữa thì chất lượng hiệu quả làm thước đo. Nếu giao cho BHXH Việt Nam mà không tăng biên chế, mà thu lại nợ đọng tốt hơn và phát triển tốt hơn thì sao lại không giao cho họ.

   Ngoài ra còn có thanh tra chuyên ngành của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, của Bộ Tài chính… bổ trợ cho nhau thì sẽ rất tốt.

   Về quản lý quỹ BHXH, cải cách thủ tục hành chính, cải cách bộ máy, công nghệ hóa thông tin, làm sao cho khoa học. Đến một lúc nào đó, BHXH Việt Nam phải trả lương hưu cho người tham gia BHXH bằng thẻ ATM, và người lao động sẽ có tài khoản cá nhân về quỹ BHXH. Tới lúc đó, bộ máy cần gì phải hơn 20.000 người.

   - Vâng, xin cảm ơn ông.

Nguồn tin: Theo: QĐND Online

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn