Nội dung cơ bản của Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường lãnh đạo đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế - Trang tin điện tử Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thanh Hoá
07:35 ICT Thứ năm, 23/10/2014
*Hãy tích cực tham gia Bảo hiểm Xã hội, Bảo hiểm Y tế để đảm bảo cuộc sống cho bản thân, gia đình và xã hội - Đường dây nóng:0373852869; email: duongdaynongbhxhthanhhoa@gmail.com *

Nội dung cơ bản của Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường lãnh đạo đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020. Bài viết góp phần phân tích sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được Đảng ta xác định và lãnh đạo, chỉ đạo, giúp cho việc nghiên cứu, quán triệt tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết.
   I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ CHÍNH SÁCH BHXH, BHYT1.BHXH, BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng mang tính trụ cột trong hệ thống chính sách An sinh xã hội.
1.1. Hệ thống chính sách An sinh xã hội thế giới và ở Việt Nam
Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã có những biện pháp tự khắc phục; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và trách nhiệm của Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau.
Hệ thống An sinh xã hội (ASXH) sơ khai ra đời sớm nhất là ở châu Âu, đánh dấu bằng việc ra đời Luật cứu trợ người nghèo ở Anh từ thế kỷ XVI. Cùng với quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hóa làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già... đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn...); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có sự trợ giúp để bảo đảm cuộc sống cho họ.
Năm 1850, nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành đạo luật bảo hiểm xã hội (BHXH) đầu tiên trên thế giới. Theo đạo luật này, sự tham gia BHXH là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khỏe - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp.
Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người góa bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hỏa hoạn... Các dịch vụ xã hội như y tế, dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em... được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính.
Năm 1935, Mỹ ban hành đạo luật đầu tiên về ASXH. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Từ đó, thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người...”. Ngày 25/06/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 09 nội dung: (1)Hệ thống chăm sóc y tế; (2)Hệ thống trợ cấp ốm đau; (3)Trợ cấp thất nghiệp; (4) Hệ thống trợ cấp tuổi già; (5)Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (6)Trợ cấp gia đình; (7)Trợ cấp thai sản; (8)Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc được bản thân; (9)Trợ cấp tiền tuất. Đồng thời ILO khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện ít nhất 05 trong số 09 nội dung nêu trên bao gồm: Trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất.
Do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên giới nghiên cứu lý luận, cũng như những nhà chỉ đạo thực tiễn, hiện có nhiều cách hiểu về ASXH. Theo nghĩa tiếng Anh là Social Security và Sécruité Sociale trong tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Việt theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau: “Bảo đảm xã hội”, “An ninh xã hội”, “An toàn xã hội”...
Có thể khái quát, khái niệm ASXH thường được đề cập đến ở hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng: ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, hạnh phúc, xã hội ổn định, phát triển. Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự bảo đảm thu nhập và một số nhu cầu thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa…
Theo nghĩa của từ Hán - Việt: An - trong chữ “An toàn”, Sinh - trong chữ “Sinh sống”, “Sinh nhai”, “Sinh tồn”… An sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống”. Xã hội an sinh là xã hội con người được an toàn sinh sống hay có cuộc sống an toàn. ASXH được coi là một tấm lưới, hay một chiếc ô che chắn cho sự an toàn xã hội và con người.
ASXH bao trùm một phạm vi rất rộng và tác động đến đời sống con người trên toàn thế giới. An sinh xã hội phát huy tác dụng từ trước khi con người ta sinh ra, do có sự chăm sóc trước khi đẻ và các chế độ hưởng về thai sản, và nó còn tiếp tục cả sau khi chết đi, do có sự chi trả chế độ tử tuất. Do đó, trên thế giới, ASXH là một thuật ngữ khá phổ cập, đặc biệt là ở những quốc gia công nghiệp phát triển. Đây là khái niệm được dùng trong hệ thống luật pháp, các giáo trình học, từ điển và các dịch vụ xã hội khác.
ASXH được đặt ra trên cơ sở lý thuyết rủi ro. Lý thuyết này cho rằng, trong đời sống của mình, mọi cá nhân, mọi gia đình, cộng đồng đều khó tránh khỏi có những lúc gặp rủi ro, tức là phải đối mặt với thiệt hại, mất mát, thương vong do thiên tai, địch họa hoặc những biến động tiêu cực về kinh tế, xã hội gây ra. Vì thế, xã hội mà đại diện là Nhà nước cần phải đặt ra nhiệm vụ quản lý rủi ro, nghĩa là phải sử dụng hàng loạt biện pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, hỗ trợ cho những đối tượng gặp khó khăn, đặc biệt là những người nghèo, giảm bớt tác động của rủi ro, giúp họ ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Những biện pháp quản lý rủi ro ấy dần được bổ sung, phát triển và trở thành hệ thống ASXH.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm về ASXH như sau: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người dân thông qua các chính sách, giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục các rủi ro hoặc tác động bất thường của tự nhiên, xã hội, nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên, nhất là người nghèo, người thu nhập thấp, giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.
Hệ thống ASXH là một hệ thống tổng hợp gồm nhiều chế độ, chính sách mà trong đó mỗi chế độ, chính sách đều có vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới ASXH rộng khắp, bao trùm lên toàn bộ dân cư của một quốc gia với mục tiêu bảo vệ mọi thành viên của mình trước những rủi ro và giữ gìn cuộc sống của họ với những biện pháp thích hợp hay những quyền lợi hợp lý trước những biến động bất thường xảy ra hay trong những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt.
 Ở nước ta, với đặc trưng của chế độ chính trị, yếu tố lịch sử, địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội, có thể thấy cấu trúc của hệ thống ASXH gồm 03 trụ cột: (1) BHXH (bao gồm cả BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); (2) Ưu đãi xã hội; (3) Bảo trợ xã hội  (bao gồm Trợ giúp xã hội và Cứu trợ xã hội. Xét về thực chất, ba trụ cột này nhằm thực hiện 03 chức năng cơ bản của hệ thống ASXH: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro.
Cần phân biệt các yếu tố ảnh hưởng đến ASXH với các trụ cột của ASXH. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến ASXH đó là: Quá trình toàn cầu hóa, vấn đề thất nghiệp và nghèo đói, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, tham nhũng, chiến tranh, khủng bố, bất bình đẳng xã hội…
1.2. BHXH, BHYT là trụ cột chính của hệ thống chính sách ASXH
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ, Trung tâm Từ điển học), do Nhà Xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2002, định nghĩa Trụ với nghĩa danh từ: Là cột vững chắc để đỡ vật nặng, ví dụ: Cầu có ba trụ. Dùng gỗ tốt làm trụ mỏ (trụ lò ở mỏ); theo nghĩa động từ: Trụ là bám, giữ chắc tại một vị trí, không để cho bật đi nơi khác, ví dụ: Du kích trụ lại để đánh địch. Đứng trụ chân. Còn Trụ cột được từ điển định nghĩa là: Người, lực lượng làm chỗ dựa chủ yếu và vững chắc, ví dụ: Trụ cột gia đình. Cầu thủ trụ cột của đội tuyển. 
Trong một ngôi nhà gỗ ngày xưa, để giữ cho ngôi nhà đứng vững, chống đỡ được với bão gió cần có các trụ cột bằng gỗ tốt, chắc chắn, không bị sâu mọt. Với ngôi nhà xây dân sinh hoặc trụ sở cơ quan, công sở hay các tòa nhà chung cư cao tầng hiện nay, với công nghệ xây dựng hiện đại tạo nên một hệ thống nền, móng chắc chắn, nhưng vai trò của những chiếc cột bê tông, lõi thép chính là những trụ cột vững chãi nâng đỡ cả ngôi nhà, tòa nhà. Trong một mái ấm, xưa nay người chồng có vai trò trụ cột, là chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho gia đình.
Từ những phân tích trên cho thấy, nói đến trụ cột, chúng ta liên tưởng tới một sự tin cậy, một yếu tố không thể thiếu, một chỗ dựa chắc chắn, bảo đảm cuộc sống an toàn cho con người và xã hội. Với ý nghĩa này cho thấy sự tương đồng trong xem xét vị trí, vai trò của hệ thống BHXH, BHYT, gắn liền với câu châm ngôn của người Đức: “Cuộc sống không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn”.
Từ khái niệm trụ cột và những phân tích trên, chúng ta thấy trụ cột cũng có nhiều dạng, đó là trụ cột chính và trụ cột phụ. Trụ cột chính được hiểu là trụ cột quan trọng, chính yếu, cơ bản nhất. Bên cạnh trụ cột chính còn có các trụ cột phụ, bổ sung, hỗ trợ cho trụ cột chính, tăng thêm sức chống chịu và độ vững chắc của hệ thống kết cấu vật chất.
Hệ thống chính sách ASXH ở nước ta tập trung vào 03 nhóm trụ cột, đó là (1) BHXH, BHYT; (2) Ưu đãi xã hội (3) Bảo trợ xã hội.  Phát triển BHXH, BHYT thực hiện mục tiêu bao phủ BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân tạo nên một lưới ASXH chủ động, tích cực, hiệu quả và vững chắc nhất.
Do tính đặc thù của lịch sử, trong hệ thống ASXH ở nước ta có bộ phận ưu đãi xã hội. Ưu đãi xã hội là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần đối với một số người có công lao đặc biệt đối với đất nước. Hệ thống này hoàn toàn dựa vào các chế độ phúc lợi từ ngân sách nhà nước. Người nhận được các quyền lợi này do Nhà nước quy định, không đòi hỏi sự đóng góp mà dựa vào sự cống hiến của họ đối với đất nước như chiến đấu dũng cảm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh, trật tự xã hội, phòng chống tội phạm…
Hệ thống bảo trợ xã hội cũng dựa vào nguồn ngân sách nhà nước là chính, đây cũng là một kênh phân phối lại thu nhập quốc dân cho từng nhóm đối tượng gắn với những điều kiện nhất định hoặc trong những trường hợp cấp bách những khoản trợ giúp hoặc hỗ trợ bằng hiện vật và bằng tiền, không xem xét đến sự đóng góp trước đó mà chỉ cần kiểm tra về những khó khăn và nhu cầu thiết yếu của người gặp rủi ro khi bản thân họ không tự lo được cuộc sống tối thiểu hay sức lực của họ không thể vượt qua những rủi ro đó. Bảo trợ xã hội được coi là “lưới đỡ cuối cùng” trong hệ thống mạng lưới an sinh xã hội. Hoạt động bảo trợ xã hội trong những năm gần đây đã thực hiện tốt hai chức năng cơ bản: cứu trợ và trợ giúp phát triển. Nguồn tài chính của hệ thống này rất đa dạng và phong phú, ngoài nguồn chính từ ngân sách nhà nước, còn huy động từ sự đóng góp, quyên góp của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức… thể hiện truyền thống đoàn kết tương thân, nhân ái của dân tộc ta. Hệ thống bảo trợ xã hội có hai bộ phận cơ bản, đó là Trợ giúp xã hội và Cứu trợ xã hội. Thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội (trong đó coi trọng trợ giúp xã hội) nhằm tạo cho các đối tượng yếu thế, dễ tổn thương có cơ hội khắc phục hoặc giảm bớt hậu quả rủi ro để tự vươn lên đảm bảo cuộc sống của mình, sớm trở lại hòa nhập với đời sống chung của cộng đồng. Nhóm trợ giúp xã hội sẽ giảm dần nếu thực hiện tốt nhóm trụ cột BHXH, BHYT.
BHXH, BHYT là những bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống chính sách ASXH, đã được thể chế hóa bằng Luật BHXH, được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và Luật BHYT, được Quốc hội Khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008.
Các chế độ BHXH, BHYT bắt buộc theo luật định hiện nay ở nước ta bao gồm: (1) Ốm đau; (2) Thai sản; (3) Dưỡng sức và phục hồi sức khỏe; (4) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; (5) Hưu trí; (6) Tử tuất; (7) Khám, chữa bệnh BHYT; (8) BHTN, bao gồm: Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tìm việc làm.
Loại hình BHXH tự nguyện áp dụng cho các đối tượng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm các chế độ: (1) Hưu trí; (2) Tử tuất. BHYT tự nguyện áp dụng đối với các đối tượng chưa được tham gia BHYT bắt buộc, có nhu cầu tham gia, chế độ hưởng tương tự BHYT bắt buộc.
Trong hệ thống ASXH thì chính sách BHXH, BHYT giữ vai trò trụ cột chính, bền vững nhất. Cũng chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới và hầu hết các nước Đông Nam Á (ASEAN) coi tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT là cơ quan ASXH (Social Security), như Malaysia Social Security, Philippine Social Security, Thailand Social Security, Laos Social Security… Đối với nước ta, tên giao dịch quốc tế của BHXH Việt Nam ngay từ khi thành lập đã được gọi là Viet Nam Social Security, nghĩa là cơ quan An sinh xã hội Việt Nam. Tính trụ cột của BHXH, BHYT trong hệ thống chính sách ASXH được thể hiện trên các nội dung sau:
- Thứ nhất, do bản chất nhân văn sâu sắc, vì con người của hoạt động BHXH, BHYT. Thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Chính sách BHXH, BHYT đã tạo được sự đoàn kết, tương thân, tương ái mang tính cộng đồng, chia sẻ rủi ro, giúp đỡ nhau vượt qua lúc khó khăn, hoạn nạn do đau ốm hoặc tuổi già, tai nạn, thất nghiệp...
- Thứ hai, các chế độ BHXH, BHYT có diện bao phủ rộng khắp, tạo thành tấm lưới che chắn vững chắc bảo vệ cuộc sống, sức khỏe cho con người, từ lúc chưa sinh ra (chế độ thai sản); tuổi ấu thơ, niên thiếu, trưởng thành (BHYT trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên); cán bộ, công chức, viên chức, người lao động (BHYT và các chế độ ngắn hạn của BHXH, như ốm đau, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ); tuổi già (chế độ bảo hiểm hưu trí); mất đi (tử tuất); bảo vệ, chăm sóc sức khỏe các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương (BHYT người nghèo, cận nghèo, nạn nhân chất độc da cam, người cao tuổi…).
- Thứ ba, hoạt động BHXH, BHYT bao hàm đầy đủ ba chức năng cơ bản của hệ thống chính sách ASXH, đó là phòng ngừa rủi ro (BHYT và các chế độ BHXH ngắn hạn như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp), giảm thiểu rủi ro (BHYT, chế độ hưu trí, tử tuất) và khắc phục rủi ro (BHYT đối với các trường hợp bệnh nặng, điều trị dài ngày, tốn kém và các chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, trợ cấp thất nghiệp).
- Thứ tư, thông qua các chế độ trợ cấp BHXH, BHYT giúp cho người dân nâng cao khả năng phòng chống, vượt qua khó khăn, hạn chế tác động tiêu cực trước những rủi ro trong cuộc sống và “bẫy nghèo” trong y tế. Phát triển BHXH, BHYT là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách ASXH, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội, là nhân tố quan trọng giúp cho việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
- Thứ năm, với mục đích, ý nghĩa sâu sắc, thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT là thiết thực, hiệu quả nhất trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm ASXH ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển theo đường lối phát triển - kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện được mục tiêu BHXH cho mọi người lao động, BHYT toàn dân, thì hệ thống ASXH Quốc gia ngày càng vững mạnh, giảm bớt gánh nặng chi từ nguồn ngân sách nhà nước, giúp cho Nhà nước tập trung nguồn lực thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
2. Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT có bước đi và lộ trình phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận xây dựng, phát triển các chế độ, chính sách BHXH, BHYT ở nước ta. Quan điểm định hướng này cho thấy sự bình tĩnh, thận trọng trong bước đi và cách làm, không chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn.
- Đảng ta xác định rõ quan điểm mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT nhưng phải có bước đi và lộ trình phù hợp, thống nhất, đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn và luôn luôn đúng trong giai đoạn tiếp theo, khi cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập toàn diện với thế giới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần XI của Đảng.
- Theo đó, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thu nhập của người dân được tăng lên, cuộc sống được cải thiện, sẽ có điều kiện để mở rộng các chế độ, chính sách BHXH, BHYT với mức đóng, mức hưởng được điều chỉnh phù hợp hơn. Quan điểm “Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước’’ thể hiện sự quan tâm, luôn chăm lo tới cuộc sống, sức khỏe người dân của Đảng và Nhà nước ta, là mục tiêu phấn đấu và bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở nước ta.
3. BHXH, BHYT phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHXH, BHYT.
- Các hoạt động nhân đạo, từ thiện trong xã hội có đặc trưng khác với hoạt động bảo hiểm, người tham gia đóng góp xây dựng các quỹ này xuất phát từ sự tự nguyện, tự giác ủng hộ vật chất tùy theo mức độ đề nghị của tổ chức nhân đạo, từ thiện hoặc theo khả năng có thể đóng góp. Điều quan trọng là người tham gia đóng góp ủng hộ quỹ nhân đạo, từ thiện của cộng đồng, nhưng không đòi hỏi quyền lợi hưởng thụ. Người tham gia ủng hộ quỹ, có đóng góp, nhưng không hưởng quyền lợi. Với hoạt động bảo trợ xã hội, bao gồm cả hoạt động cứu trợ xã hội hoặc trợ giúp xã hội, người được hưởng thụ các chế độ trợ cấp, trợ giúp của xã hội nhưng không phải đóng góp.
- Nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của hoạt động bảo hiểm đó là muốn được hưởng quyền lợi, phải tham gia và đóng góp vào quỹ bảo hiểm theo mức phí quy định của Nhà nước hoặc của cơ quan bảo hiểm, với nguyên tắc quyền lợi được hưởng tương ứng với nghĩa vụ đóng góp. Nguyên tắc này biểu hiện tính minh bạch, công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng tham gia đóng góp xây dựng quỹ bảo hiểm. Nghĩa là muốn được hưởng quyền lợi bảo hiểm trước hết, phải là những người tham gia bảo hiểm, có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm hoặc các đối tượng đặc biệt diện ưu đãi xã hội được Nhà nước đài thọ, đóng thay phí bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm không chi trả chế độ trợ cấp cho người không tham gia đóng góp xây dựng quỹ.
- Đi liền với nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ là việc đề cao sự chia sẻ giữa các thành viên tham gia BHXH, BHYT, là nguyên tắc mang đặc thù của hoạt động BHXH, BHYT. Chia sẻ rủi ro là một nguyên tắc quan trọng của hoạt động BHXH, BHYT với phương châm lấy số đông bù cho số ít. Nghĩa là huy động sự đóng góp tài chính của số đông người, bù đắp tổn thất cho số ít người không may gặp rủi ro khó khăn trong cuộc sống, trong chăm sóc sức khỏe. Khi tham gia BHXH, BHYT có sự trợ giúp, chia sẻ từ nguồn quỹ chung, góp phần giúp các thành viên giảm bớt gánh nặng tài chính, ổn định thu nhập khi tuổi già, mất sức lao động; giúp vượt qua khó khăn, hoạn nạn khi đau ốm, tai nạn, thất nghiệp… Nguyên tắc chia sẻ rủi ro được thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động BHYT và các chế độ trợ cấp ngắn hạn của BHXH, như các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn và bệnh nghề nghiệp, tử tuất…   
- Là hoạt động bảo hiểm có đặc thù riêng mang bản chất nhân văn, nhân đạo cộng đồng sâu sắc, không vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động BHXH, BHYT trước hết phải tuân thủ đúng nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi thụ hưởng tương ứng với nghĩa vụ đóng góp. Đồng thời, hoạt động BHXH, BHYT thể hiện bản chất xã hội, tính đoàn kết, chia sẻ giữa các thành viên tham gia đóng góp xây dựng, phát triển quỹ, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, khỏe mạnh hay đau ốm. Quan điểm BHXH, BHYT phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên định hướng cho việc xây dựng môi trường xã hội công bằng, bình đẳng, minh bạch, đề cao tính xã hội, sự đùm bọc, sẻ chia giữa các thành viên tham gia, là nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của hệ thống BHXH, BHYT. Quan điểm này, định hướng cho việc coi trọng công tác truyền thông nâng cao nhận thức của xã hội về bản chất nhân đạo, nhân văn của hoạt động BHXH, BHYT để tự nguyện, tự giác tham gia vì lợi ích của bản thân và cho cả cộng đồng; đồng thời cần tăng cường các giải pháp ngăn chặn các hành vi “lựa chọn ngược”, chỉ khi ốm đau nặng, có chi phí cao mới mua thẻ BHYT để được hưởng quyền lợi BHYT; bên cạnh đó tăng cường các giải pháp ngăn chặn và xử lý các hành vi lợi dụng, trục lợi, không thuộc đối tượng tham gia nhưng tìm cách hợp thức hóa để có tên trong danh sách tham gia để được hưởng chế độ khám chữa bệnh BHYT và các trợ cấp của BHXH.   
4. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.
- Đây là quan điểm hết sức quan trọng của Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị, khẳng định trách nhiệm thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT không phải chỉ riêng Ngành BHXH mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và của tất cả mọi người dân. Quan điểm này xuất phát từ việc nhận thức rõ vị trí, vai trò, tính trụ cột của hoạt động BHXH, BHYT trong hệ thống chính sách ASXH. Bởi lẽ suy cho cùng, thực hiện tốt công tác BHXH, BHYT chính là góp phần bảo đảm ASXH trên địa bàn địa phương và đất nước, thiết thực đóng góp thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Bộ Chính trị yêu cầu cả hệ thống chính trị, với các thành phần cụ thể, trực tiếp là các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và mỗi người dân phải có trách nhiệm thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ này cho thấy tính chất rộng rãi, phức tạp, liên ngành và hết sức quan trọng của hoạt động BHXH, BHYT. Nếu như chỉ có bản thân Ngành BHXH nỗ lực, cố gắng cũng chưa đủ, phải cần sự vào cuộc, cộng đồng trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội mới có thể thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT.
- Tính toàn diện, quyết liệt trong quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta được thể hiện ở việc nhận định và yêu cầu trách nhiệm thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT đối với các doanh nghiệp và cả mỗi người dân, nhằm khắc phục hạn chế, nhược điểm trốn đóng, nợ đọng nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia BHXH, BHYT cho người lao động; đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm tham gia, chấp hành nghĩa vụ đóng góp xây dựng Quỹ BHXH, BHYT của mỗi người dân, trước hết vì cuộc sống, sức khỏe của chính bản thân, đến gia đình và cộng đồng xã hội.
- Sự phát triển mạnh mẽ của BHXH, BHYT đòi hỏi cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt của Đảng ta. Thực hiện tốt quan điểm “Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân” nhằm tăng cường hơn trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt hơn các chế độ, chính sách BHXH, BHYT trong giai đoạn mới.
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BHXH, BHYT GIAI ĐOẠN 2012 - 2020
Nghị quyết nêu rõ 04 mục tiêu bao quát các lĩnh vực hoạt động BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, đó là:
- Mục tiêu thứ nhất, xác định định hướng tổng quát nhất đó là thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT xây dựng niềm tin, tạo nền tảng vững chắc để phát triển, tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, trong đó coi trọng BHXH tự nguyện và thực hiện BHYT toàn dân. Đáng chú ý trong mục tiêu này là định hướng phát triển BHXH tự nguyện, bởi lẽ đây là đối tượng chiếm số lượng đông đảo trong xã hội, không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc, là những người nông dân, lao động tự do, người thu nhập thấp… Xã hội ổn định, đất nước phồn vinh phải bảo đảm an sinh, chăm lo cuộc sống cho toàn bộ dân cư, nhất là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương. Do đó, việc phát triển BHXH tự nguyện cần được quan tâm thực hiện, mặc dù có nhiều khó khăn, vấn đề là cần tìm ra giải pháp thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó, Đảng ta nêu rõ định hướng nhất quán, khẳng định con đường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tốt nhất trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện BHYT toàn dân.
- Mục tiêu thứ hai, Nghị quyết xác định rõ các chỉ tiêu cụ thể, định hướng cho việc tổ chức thực hiện với mốc thời gian phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN; trên 80% dân số tham gia BHYT. Việc đưa ra các tỷ lệ về lực lượng lao động tham gia BHXH, BHTN, BHYT với các số liệu tương ứng phấn đấu thực hiện: 50%, 35% và trên 80% thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước ta, đòi hòi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cùng đồng lòng, chung sức, nỗ lực thực hiện. Đây là một bước cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng ta về thực hiện BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân đã được chỉ ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng “Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân…” và “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới chính sách viện phí; tiến tới BHYT toàn dân”.  
 - Mục tiêu thứ ba, Nghị quyết yêu cầu “Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn; quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT”. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, thực hiện nguyên tắc bảo đảm an toàn về độ tin cậy tài chính của Quỹ BHXH, BHYT. Nguồn Quỹ BHXH, BHYT phải được đảm bảo và luôn trong tình trạng sẵn có để kip thời thực hiện việc chi trả trợ cấp cho các người tham gia, thụ hưởng, vì những rủi ro, nguy cơ trong cuộc sống, về sức khỏe luôn trong tình trạng thường trực, có thể đến với bất kỳ ai, vào bất cứ lúc nào. Điều đó có nghĩa nguồn tài chính phải được đảm bảo một cách chắc chắn, là nhân tố quan trọng giữ gìn ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. BHXH, BHYT là quỹ xã hội, nguồn dự phòng phục vụ mục tiêu An sinh xã hội, do đó việc quản lý, sử dụng phải luôn đặt mục tiêu an toàn, đảm bảo cân đối lâu dài, vững chắc, là chỗ dựa tin cậy của Nhà nước và mọi tầng lớp cán bộ, nhân dân. 
- Mục tiêu thứ tư: Đảng ta nêu rõ định hướng “Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Mục tiêu đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH trước nhiệm vụ ngày càng cao của giai đoạn mới. Những yêu cầu về tính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao trong giai đoạn mới là kim chỉ nam định hướng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức BHXH phải nỗ lực vươn lên về mọi mặt, cả về học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức, kỷ luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ, xứng đáng là “công bộc” của nhân dân.   
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
Bộ Chính trị xác định rõ 04 nhiệm vụ và cũng chính là những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt những mục tiêu đã xác định
1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT
- Công tác tuyên truyền là khâu đột phá, phải được tiến hành trước một bước nhằm tác động vào nhận thức, làm thay đổi thái độ, hành vi, hướng dẫn dư luận. Khi nhận thức đúng, tư tưởng thông, công việc sẽ được thực hiện dễ dàng, thống nhất, đồng bộ. Nghị quyết yêu cầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần xác định rõ trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ BHXH, BHYT. Điều này cho thấy tính nhất quán trong việc đánh giá vai trò quan trọng hàng đầu về trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT của các tổ chức đảng và chính quyền các cấp. Bởi lẽ, các cơ quan báo chí, truyền thông là công cụ lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền các cấp, sự vào cuộc thống nhất, đồng bộ với tinh thần trách nhiệm cao sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT.   
- Nghị quyết chỉ rõ việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT, cho thấy thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này chính là nhằm khắc phục tồn tại, yếu kém của công tác tuyên truyền trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao. Do đó, giai đoạn 2012 -2020, muốn thực hiện tốt mục tiêu phát triển BHXH, BHYT đã được đề ra cần phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Và nhiệm vụ ấy là trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền các cấp.  
- Để thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp này, Nghị quyết nêu rõ mục đích, nội dung tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT, để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của BHXH, BHYT trong hệ thống ASXH; quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tham gia BHXH, BHYT. Đồng thời, phát hiện và biểu dương kịp thời các địa phương, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện tốt, đồng thời phê phán, xử lý nghiêm vi phạm. Nghị quyết cũng yêu cầu chính quyền, cơ quan BHXH và các tổ chức đoàn thể cần chú ý làm tốt công tác vận động nhân dân tham gia BHXH, BHYT.
2. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT
Hệ thống chính sách, pháp luật là phương tiện định hướng và điều chỉnh các quan hệ xã hội, là một trong những yếu tố bảm đảm và bảo vệ sự ổn định trật tự xã hội. Chính sách, pháp luật một mặt ghi nhận và thể chế hóa quyền con người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện. Mặt khác, chính sách, pháp luật trở thành phương tiện để các thành viên của xã hội có điều kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Các vấn đề như phúc lợi xã hội, an toàn tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, tự do, bình đẳng và công bằng … đều gắn với sự điều chỉnh của pháp luật. Cùng với những biến đổi của thực tiễn, chính sách, pháp luật luôn được điều chỉnh, bổ sung sửa đổi cho phù hợp, phát huy những thành tựu, khắc phục nhược điểm, hạn chế, nhằm thực hiện tốt và hiệu quả hơn.
Trên tinh thần đó, việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT được Đảng ta xác định tập trung vào 05 vấn đề trọng tâm có liên quan mật thiết, tác động, hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau rất lôgic chặt chẽ, bao hàm đầy đủ các lĩnh vực hoạt động BHXH, BHYT, từ các khâu quản lý, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, xử lý sai phạm, đến việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu và phát triển các loại hình bảo hiểm mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống:
- Thứ nhất, nghiên cứu, sửa đổi Luật BHXH theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Hoàn thiện chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý và sử dụng Quỹ BHXH, bảo đảm yêu cầu cân đối và tăng trưởng Quỹ. Rà soát, bổ sung quy định buộc người sử dụng lao động phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động. Sửa đổi chính sách BHTN để bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động bị thất nghiệp và tránh trục lợi bảo hiểm.
- Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Luật BHYT; nghiên cứu sửa đổi chính sách điều tiết nguồn thu BHYT kết dư từ địa phương về Trung ương, trích lại tỉ lệ thích hợp cho địa phương để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về BHYT. Có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHYT. Nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo.
- Thứ ba, sớm ban hành Chiến lược phát triển BHXH, BHYT đến năm 2020. Từng bước thực hiện nguyên tắc “đóng – hưởng”, gắn với việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu ở một số lĩnh vực, ngành nghề nhất định phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Thứ tư, mở rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia các loại hình BHXH, BHYT, nhất là BHXH tự nguyện cho nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức; BHYT cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, nông dân, học sinh, sinh viên, đồng bào ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi. Áp dụng thêm các loại BHXH mới phù hợp với nhu cầu nhân dân. Thí điểm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung.
- Thứ năm, đa dạng sản phẩm dịch vụ BHYT phù hợp với các tầng lớp trong xã hội, điều chỉnh các mức phí, mức hưởng đi đôi với phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao. Có chính sách khuyến khích người tham gia BHYT tự nguyện thường xuyên dài hạn, hạn chế tình trạng người bị ốm đau mới mua BHYT. Quy định mức thanh toán BHYT theo hướng vừa bảo đảm quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, vừa bảo đảm cân đối quỹ theo nguyên tắc “đóng - hưởng”.
3. Nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT
Nhận thức rõ mục đích cuối cùng trong thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT chính là mang lại quyền lợi của người tham gia, thụ hưởng một cách tốt nhất, thuận lợi nhất, Đảng ta đã chỉ rõ nhiệm vụ và giải pháp “Nâng cao chất lượng dịch vụ và công tác thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT”, bao gồm 04 nội dung quan trọng, trong đó đặc biệt coi trọng việc kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH các cấp; đề cao chất lượng, năng lực, tinh thần trách nhiệm và thái độ của đội ngũ cán bộ BHXH, BHYT, với những yêu cầu từ khái quát đến cụ thể, đó là:
- Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống BHXH, BHYT theo hướng phục vụ chi trả nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm.
- Thực hiện minh bạch, công khai và tăng cường quản lý các hoạt động khám, chữa bệnh để hạn chế, ngăn chặn tình trạng trục lợi BHYT, lạm dụng kỹ thuật cao, thuốc bệnh đắt tiền.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy BHXH các cấp để thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, giảm phiền hà cho người tham gia BHXH, BHYT.
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực BHXH, BHYT; mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH, BHYT.
4. Tăng cường quản lý nhà nước về BHXH, BHYT
Chính sách, pháp luật BHXH, BHYT có nội dung rộng, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống, sức khỏe con người, được điều chỉnh bởi Luật BHXH và Luật BHYT. Theo đó, quản lý nhà nước về BHXH, BHYT là trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan theo quy định của pháp luật, cùng với đó là trách nhiệm của UBND các cấp. Để thực hiện tốt chính sách, pháp luật BHXH, BHYT cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước và BHXH ở các cấp trong việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Quản lý tốt đối tượng đóng và tham gia BHXH, BHYT từ cơ sở. Củng cố và tăng cường quản lý Quỹ BHXH, Quỹ BHYT bảo đảm thu chi, đầu tư tăng trưởng Quỹ hiệu quả và an toàn theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, nhất là các hành vi trốn đóng, nợ tiền BHXH, BHYT và các hành vi tiêu cực, gian lận để hưởng chế độ, trục lợi BHXH, BHYT.
IV. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Nhất quán với quan điểm thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT không phải chỉ là trách nhiệm riêng của Ngành BHXH, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Do đó, để bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết, Bộ Chính trị yêu cầu:
- Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết.
-  Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về BHXH, BHYT.
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, BHXH Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết, pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, BHYT.
– Các cấp ủy đảng địa phương lãnh đạo ủy ban nhân dân phối hợp chặt chẽ với cơ quan BHXH tổ chức thực hiện tốt công tác BHXH, BHYT trên địa bàn. Hằng năm hoặc khi cần thiết, các cấp ủy đảng làm việc với cơ quan BHXH về tình hình thực hiện các chính sách, chế độ BHXH, BHYT.
- Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban cán sự đảng Bộ Y tế và BHXH Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị.
Đây là những ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo hết sức quyết liệt của Bộ Chính trị đối với cả hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan mật thiết công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, tạo thuận lợi cho công tác BHXH, BHYT hoạt động nề nếp, hiệu quả và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Dương Văn Thắng - Tổng Biên tập Tạp chí BHXH
 
Thủ tướng yêu cầu quản lý chặt giá thuốc
Giá thuốc hiện rất cao, càng đấu thầu càng lên cao, suy cho cùng thì người bệnh phải chịu nên quản lý giá thuốc như thế nào là vấn đề mà Thủ tướng Chính phủ...